Bài đăng

Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm dinh dưỡng nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng và nở hoa của cây trồng ở khu vực công viên Hà Nội

Hình ảnh
Khảo sát những đặc điểm cơ bản của đất và nước ở khu vực Hà Nội. Sử dụng phương pháp chỉ thị sinh học và chẩn đoán lá để đánh giá trạng thái sinh trưởng cũng như rối loạn dinh dưỡng của cây trồng ở khu vực Hà Nội, trên cơ sở đó lựa chọn thành phần của chế phẩm dinh dưỡng; Thử nghiệm chế phẩm dinh dưỡng bằng cách phun đại trà với hoa ngũ sắc, bón với cây trồng trong chậu như chanh, ớt, cà chua, cây hoa. Thử nghiệm chế phẩm dinh dưỡng dạng lỏng (nuôi cây không đất) với cây thuốc lá, cà chua


http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/19285

Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Những biến đổi của các hiện tượng thời tiết đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân xã Như Cố, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Người dân cũng đã biết vận dụng các kiến thức bản địa về kỹ thuật canh tác và sử dụng các giống cây trồng bản địa có tiềm năng (Dưa lê, chuối tây, gừng, khoai tây, đỗ xanh...) để thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH). Ba mô hình nghiên cứu tại xã đã được người nông dân hưởng ứng nhiệt tình và đạt được kết quả cao: Mô hình cây khoai tây chịu rét, mô hình cây dưa lê chịu hạn, mô hình trồng xen chuối và gừng trên đất dốc. Các mô hình này không những đem lại lợi ích về mặt kinh tế cho người dân mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội và môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững trong điều kiện BĐKH.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/10076

Tình hình bệnh tiêu chảy tại Việt Nam giai đoạn

Hình ảnh
tháng 7 20, 2017 Tình hình bệnh tiêu chảy tại Việt Nam giai đoạn 2002-2011 http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/11457

Bài báo nhằm mô tả tình hình bệnh tiêu chảy ở Việt Nam trong 10 năm từ 2002-2011. 


Sử dụng phương pháp thống kê mô tả dựa trên thu thập số liệu sẵn có về bệnh tiêu chảy trong 10 năm, giai đoạn 2002-2011. 
Kết quả cho thấy trong 10 năm từ 2002-2011; Số ca mắc tiêu chảy là 9.408.345, cao nhất vào 2 năm 2002, 2005 (1.055.969 và 1.011.718 ca, tỷ suất mắc trung bình 1327,62 và 1220,98/100.000 dân), giảm dần theo năm, thấp nhất năm 2011 (853.714 ca, tỷ suất mắc trung bình 860,30/100.000 dân). 
Tổng số ca tử vong do tiêu chảy là 115, số ca tử vong do tiêu chảy cao ở những năm 2002-2007, cao nhất vào năm 2007 (24 ca, tỷ suất tử vong trung bình 0,03/100.000 dân). 
4 tháng có số ca mắc tiêu chảy cao hàng năm từ tháng 4 đến tháng 7. 
Khu vực có tỷ lệ mắc tiêu chảy cao nhất là vùng Tây Bắc bộ, Tây Nguyên, Đồng bằng Sông Hồng, thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ và Bắc Trung…

Giải pháp thu hồi nợ chương trình tín dụng học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn tại Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Hà Nội

Title: Giải pháp thu hồi nợ chương trình tín dụng học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn tại Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Hà NộiAuthors: Nguyễn, Sĩ TuânKeywords: Quản trị kinh doanh;Thu hồi nợ;Tín dụng;Sinh viênIssue Date: 2016Publisher: ĐHQGHNURI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/9005Appears in Collections:Luận văn - Luận án (LIC)

Chi trả dịch vụ môi trường rừng và sinh kế cộng đồng: Trường hợp nghiên cứu tại xã Chiềng Cọ, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

Hình ảnh
ttp://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/54750

Các hệ sinh thái rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người trong việc duy trì môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. 



Rừng không chỉ cung cấp nguyên liệu như gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ, mà còn có các lợi ích trong việc duy trì và bảo vệ môi trường, đó là điều hòa khí hậu, hạn chế xói mòn và bồi lắng, bảo vệ bờ biển, điều tiết nguồn nước và hạn chế lũ lụt. 
Hạn chế biến đổi khí hậu thông qua nguyên lý làm bồn chứa lưu trữ các bon, cắt giảm phát thải khí nhà kính.
 Các dịch vụ hệ sinh thái rừng có liên quan mật thiết với sinh kế người nghèo và tất cả các cộng đồng, được cho là những mối quan hệ nhân quả quan trọng giữa sự biến đổi sinh kế nông thôn và độ che phủ rừng. 
Người nghèo ở các vùng sâu, vùng xa ở nông thôn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn hàng hóa và dịch vụ môi trường từ rừng tự nhiên, những lợi ích lớn thông qua việc chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp, khai thác và bán g…

Hướng tới sự bình đẳng về quyền sử dụng đất cho phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Title: Hướng tới sự bình đẳng về quyền sử dụng đất cho phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nayAuthors: Doãn, Hồng NhungKeywords: Quyền sử dụng đất;Phụ nữ;Luật dân sự;Luật dân sựIssue Date: 2002Publisher: Đại học Quốc gia Hà NộiDescription: tr. 428-433
Hội nghị khoa học nữ lần thứ 7, Hà Nội, 2002URI: http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/25057Appears in Collections:Kỷ yếu Hội nghị - Hội thảo (LIC)

Phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam

Hình ảnh
Giới thiệu luận văn “Phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam” Tác giả: Nguyễn Quốc Anh Các khu kinh tế cửa khẩu không chỉ là động lực quan trọng phát triển địa phương mà còn là nền tảng phát triển kinh tế quốc gia. Về khung khổ pháp lý và các chính sách ưu đãi như thuế, phí, vốn… đã được kiện toàn và là cơ hội để các địa phương tạo bước đột phá từ các khu kinh tế cửa khẩu này, tuy nhiên để khai thác hiệu quả khu kinh tế cửa khẩu cũng còn không ít vấn đề đặt ra cần phải giải quyết. Với hàng loạt chính sách ưu đãi về thuế, phí, sử dụng đất, sau hơn 15 năm kể từ khi thành lập khu kinh tế cửa khẩu đầu tiên, hầu hết các tỉnh có biên giới đất liền (21/25 tỉnh) đã thành lập khu kinh tế cửa khẩu. Đến nay, trên toàn quốc có 28 khu kinh tế cửa khẩu với tổng diện tích hơn 600.000 ha, thu hút được khoảng gần 70 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn hơn 700 triệu USD và khoảng 500 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn gần 40.000 tỷ đồng. Riêng khu cửa khẩu kinh tế Cha Lo (Quảng Bình…